Thiên can địa chi là hệ thống đếm thời gian của người xưa, gồm 10 thiên can và 12 địa chi ghép đôi với nhau. Mỗi khi nói “tuổi Giáp Tý”, “năm Đinh Mùi” hay “ngày Canh Tý”, ông bà ta đang dùng chính hệ thống này. Bài viết giải thích từng phần thật chậm rãi, kèm ví dụ tính tay để bạn tự tìm can chi của năm sinh mà không cần tra lịch.
Thiên can địa chi là gì, hiểu nôm na ra sao?
Hãy hình dung hai bánh xe răng cưa. Bánh nhỏ có 10 răng, đó là thiên can. Bánh lớn có 12 răng, đó là địa chi. Mỗi năm cả hai bánh cùng quay một nấc. Răng nào của bánh nhỏ gặp răng nào của bánh lớn thì ghép thành tên của năm đó.
Chữ “can” gợi ý thân cây, gắn với trời nên gọi là thiên can. Chữ “chi” là cành nhánh, gắn với đất nên gọi là địa chi. Can và chi đi cùng nhau như trời với đất, tạo thành một cặp gọi là can chi.
Vì vậy nếu có người hỏi can chi là gì, câu trả lời ngắn gọn là: một cặp tên gồm một can đứng trước, một chi đứng sau, dùng để gọi năm, tháng, ngày và giờ.
10 thiên can và ngũ hành của từng can
Trong hệ thiên can địa chi, mười thiên can theo thứ tự: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Cứ hai can liền nhau thuộc cùng một hành, can đứng trước mang tính dương, can đứng sau mang tính âm.

Có thể nhớ theo cặp: Giáp Ất là Mộc, Bính Đinh là Hỏa, Mậu Kỷ là Thổ, Canh Tân là Kim, Nhâm Quý là Thủy. Can dương thường được ví với hình ảnh mạnh mẽ như cây cổ thụ, mặt trời. Can âm được ví với hình ảnh mềm mại như cỏ hoa, ngọn đèn.
12 địa chi gắn với 12 con giáp
Mười hai địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đây là nửa sau của thiên can địa chi. Mỗi chi ứng với một con vật quen thuộc, nên người Việt quen gọi là 12 con giáp.

Chi ở vị trí lẻ (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) là chi dương. Chi ở vị trí chẵn (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi) là chi âm. Về ngũ hành: Dần Mão thuộc Mộc (mùa xuân), Tỵ Ngọ thuộc Hỏa (mùa hè), Thân Dậu thuộc Kim (mùa thu), Hợi Tý thuộc Thủy (mùa đông). Bốn chi Thìn, Mùi, Tuất, Sửu nằm ở cuối mỗi mùa, thuộc Thổ.
Vì sao thiên can địa chi ghép thành 60 hoa giáp?
Nếu ghép tùy ý, 10 can với 12 chi sẽ ra 120 cặp. Nhưng người xưa chỉ cho can dương đi với chi dương, can âm đi với chi âm. Thế nên chỉ còn đúng 60 cặp, gọi là 60 hoa giáp (hay lục thập hoa giáp). Bạn có thể đọc thêm phần giải thích về can chi trên Wikipedia tiếng Việt.
Vòng bắt đầu từ Giáp Tý, rồi Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão… Khi can đã đi hết 10 thì quay lại Giáp, còn chi vẫn đi tiếp. Sau 60 năm, hai bánh xe mới trở về đúng vị trí ban đầu. Đó là lý do người ta nói “60 năm mới gặp lại một tuổi”, và ai sống đến 61 tuổi mụ thì được mừng thọ “hoàn giáp”.
| Năm | Can chi | Năm | Can chi |
|---|---|---|---|
| 1984 | Giáp Tý | 1990 | Canh Ngọ |
| 1985 | Ất Sửu | 1991 | Tân Mùi |
| 1986 | Bính Dần | 1992 | Nhâm Thân |
| 1987 | Đinh Mão | 1993 | Quý Dậu |
| 1988 | Mậu Thìn | 1994 | Giáp Tuất |
| 1989 | Kỷ Tỵ | 1995 | Ất Hợi |
Nhìn bảng sẽ thấy: năm 1994 can quay lại Giáp, nhưng chi đã sang Tuất, nên thành Giáp Tuất chứ không phải Giáp Tý.
Mỗi cặp can chi còn được gán một hành riêng gọi là nạp âm, ví dụ Giáp Tý là Hải Trung Kim. Phần này đã có bài riêng: nạp âm là gì.
Cách tính can chi năm sinh chỉ với hai phép nhẩm
Đây là phần nhiều người cần nhất. Bạn chỉ cần năm sinh dương lịch.
Bước 1: Tìm can từ chữ số cuối của năm
| Số cuối | Can | Số cuối | Can |
|---|---|---|---|
| 0 | Canh | 5 | Ất |
| 1 | Tân | 6 | Bính |
| 2 | Nhâm | 7 | Đinh |
| 3 | Quý | 8 | Mậu |
| 4 | Giáp | 9 | Kỷ |
Bước 2: Tìm chi bằng số dư khi chia cho 12
Lấy năm sinh chia cho 12, xem phần dư rồi đối chiếu:
- Dư 0: Thân · dư 1: Dậu · dư 2: Tuất · dư 3: Hợi
- Dư 4: Tý · dư 5: Sửu · dư 6: Dần · dư 7: Mão
- Dư 8: Thìn · dư 9: Tỵ · dư 10: Ngọ · dư 11: Mùi
Ví dụ tính tay
- Năm 1975. Số cuối là 5, can Ất. Lấy 1975 chia 12: 12 × 164 = 1968, còn dư 7, chi Mão. Vậy 1975 là Ất Mão.
- Năm 1990. Số cuối là 0, can Canh. 12 × 165 = 1980, dư 10, chi Ngọ. Vậy 1990 là Canh Ngọ.
- Năm 2027. Số cuối là 7, can Đinh. 12 × 168 = 2016, dư 11, chi Mùi. Năm 2027 là Đinh Mùi.
Nếu ngại chia, có cách đơn giản hơn: nhớ một năm Tý gần mình (1960, 1972, 1984, 1996, 2008), rồi đếm tiếp Sửu, Dần, Mão… cho đến năm sinh.
Người sinh vào tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch, trước ngày Tết, thì vẫn thuộc năm âm lịch trước. Ví dụ sinh ngày 20/1/1991, trước Tết Tân Mùi, thì tính là tuổi Canh Ngọ (1990).
Cách tính can chi theo thiên can địa chi như trên cho kết quả trùng với bảng tra ở mọi năm, nên bạn có thể yên tâm áp dụng cho cả nhà.
Can chi của tháng, ngày và giờ
Không chỉ năm, thiên can địa chi còn dùng để gọi tháng, ngày, giờ:
- Tháng: chi của tháng cố định. Tháng Giêng luôn là Dần, tháng Hai là Mão… tháng Chạp là Sửu. Can của tháng đổi theo năm. Năm 2027 Đinh Mùi có tháng Giêng là Nhâm Dần.
- Ngày: can chi ngày chạy liên tục theo vòng 60, không phụ thuộc tháng hay năm. Ví dụ ngày 22/11/2026 là ngày Canh Tý, bạn có thể xem trên lịch âm.
- Giờ: một ngày chia 12 giờ, mỗi giờ dài 2 tiếng, bắt đầu từ giờ Tý (23h–1h). Can của giờ phụ thuộc can của ngày. Từ đó người xưa chọn ra các giờ hoàng đạo để làm việc quan trọng.
Ghép đủ bốn cặp năm, tháng, ngày, giờ sinh sẽ được “tứ trụ”, nền tảng của nhiều môn xem tuổi. Ngoài ra, chi của ngày còn được dùng để xét ngày xung tuổi.
Hỏi đáp về thiên can địa chi
Can chi là gì, có phải là con giáp không?
Can chi là cặp gồm một thiên can và một địa chi, ví dụ Giáp Tý. Con giáp chỉ là phần địa chi (Tý là chuột). Hai người cùng tuổi Tý nhưng khác can, như Giáp Tý và Bính Tý, là hai tuổi khác nhau.
Vì sao không có tuổi Giáp Sửu hay Ất Tý?
Giáp là can dương, Sửu là chi âm nên không ghép với nhau. Tương tự Ất là can âm, Tý là chi dương. Chỉ cặp cùng dương hoặc cùng âm mới thành tên năm, vì thế chỉ có 60 cặp.
Tính can chi năm sinh theo năm dương lịch có đúng không?
Đúng với người sinh sau Tết. Người sinh từ đầu tháng 1 đến trước ngày Tết thì lùi lại một năm rồi mới tính, vì năm can chi bắt đầu từ mùng 1 Tết.
Bao lâu thì một tuổi can chi lặp lại?
Sau 60 năm. Ví dụ người sinh năm Đinh Mùi 1967 sẽ gặp lại năm Đinh Mùi vào năm 2027, đúng một vòng hoa giáp.
Thiên can địa chi là kiến thức nền, hiểu rồi thì đọc lịch, xem tuổi sẽ dễ hơn rất nhiều. Những nội dung trên theo quan niệm dân gian và mang tính tham khảo. Mời bạn xem thêm các bài khác tại Cát Tường Việt.

